Một số điểm mới nổi bật của Luật Giáo dục đại học năm 2025New
03/04/2026 16:29
Luật Giáo dục đại học năm 2025 (viết tắt là Luật GDĐH năm 2025) đã được ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 01/01/2026; trừ một số điểm, khoản quy định tại khoản 2 Điều 45 của Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026.
Luật GDĐH năm 2025 được ban hành nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thúc đẩy tự chủ đại học và hội nhập quốc tế. So với các quy định tại Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 (Luật sửa đổi năm 2018), Luật GDĐH năm 2025 có một số định hướng lớn đáng chú ý như sau:
1. Tự chủ gắn với cơ chế tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình
Khoản 11 Điều 4 Luật sửa đổi năm 2018 quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học.”
Khoản 2 Điều 3 Luật GDĐH năm 2025 quy định: “Quyền tự chủ là quyền được chủ động quyết định gắn với trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật về chuyên môn học thuật, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính và những hoạt động giáo dục đại học khác.”
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 4 Luật GDĐH năm 2025 quy định: “Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; hiệu lực quản lý nhà nước, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền.”
Vậy, Luật GDĐH năm 2025 đã mở rộng hơn khung khái niệm về quyền tự chủ tập trung vào việc chủ động quyết định trong các lĩnh vực, cụ thể hơn như đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học; không chỉ khẳng định quyền chủ động trong các hoạt động chuyên môn mà còn gắn chặt với trách nhiệm giải trình, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý và tổ chức giáo dục đại học.
Theo đó, tại Điều 14 Luật GDĐH năm 2025 quy định các cơ sở giáo dục đại học được trao quyền tự chủ rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Cụ thể, về học thuật và tổ chức, các trường được tự chủ xác định chỉ tiêu, lựa chọn phương thức tuyển sinh, tổ chức đào tạo, liên kết đào tạo và cấp văn bằng khi đáp ứng điều kiện bảo đảm chất lượng. Không chỉ vậy, các trường đại học còn được chủ động tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng như khai thác hợp pháp tài sản, tài nguyên, sở hữu trí tuệ và hợp tác quốc tế.
Quy định mới hướng tới xây dựng mô hình tự chủ toàn diện, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm định chất lượng.
2. Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học
Điều 10 Luật GDĐH năm 2025 bổ sung quy định cho phép các cơ sở giáo dục đại học chủ động ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ tiên tiến trong quản lý và tổ chức đào tạo. Việc ứng dụng công nghệ phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm chất lượng đào tạo, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, quyền tiếp cận bình đẳng của người học, minh bạch trong quản trị và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đồng thời, khoản 3 Điều 10 Luật GDĐH năm 2025 quy định cho phép cơ sở giáo dục đại học hợp tác với doanh nghiệp, Viện nghiên cứu để bồi dưỡng năng lực số và triển khai các giải pháp công nghệ tiên tiến. Quy định cũng làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc chuyển đổi số trong quản trị, tổ chức đào tạo.
3. Quy định rõ nguyên tắc hoạt động GDĐH
Khoản 1 Điều 3 Luật GDĐH năm 2025 quy định về hoạt động giáo dục đại học, như sau:
“1. Hoạt động giáo dục đại học là những hoạt động xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, điều kiện bảo đảm chất lượng; tuyển sinh, tổ chức đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; đánh giá, kiểm định chất lượng.”
Điều 4 Luật GDĐH năm 2025 quy định:
“Điều 4. Nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2. Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học; hiệu lực quản lý nhà nước, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền.
3. Bảo đảm chất lượng, hiệu quả, công bằng, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đại học, thúc đẩy học tập suốt đời.
4. Bảo đảm tự do học thuật gắn với liêm chính học thuật và trách nhiệm đối với cộng đồng.
5. Phát triển nhân tài, gắn kết đào tạo nhân lực trình độ cao với nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
6. Thúc đẩy hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, minh bạch dựa trên chất lượng, hiệu quả.”
Vậy Luật GDĐH năm 2025 quy định rõ nguyên tắc hoạt động giáo dục đại học, tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho hoạt động GDĐH, bảo đảm tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, nâng cao chất lượng, công bằng và liêm chính học thuật, đồng thời thúc đẩy gắn kết đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
4. Đa dạng hoá phương thức đào tạo
Điều 6 Luật Giáo dục đại học năm 2012 chủ yếu quy định khung về giáo dục đại học: xác định các trình độ đào tạo (đại học, thạc sĩ, tiến sĩ), các hình thức đào tạo để cấp văn bằng (chính quy, vừa làm vừa học, đào tạo từ xa) và nguyên tắc liên thông giữa các hình thức, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời.
Điều 26 Luật GDĐH năm 2025 quy định:
“Điều 26. Tổ chức đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ
1. Việc tổ chức đào tạo được thực hiện linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, học tập suốt đời của người học.
2. Hình thức đào tạo bao gồm:
a) Đào tạo chính quy thực hiện tập trung toàn thời gian tại các địa điểm đào tạo được cấp phép hoạt động;
b) Đào tạo thường xuyên thực hiện theo thời gian linh hoạt, tại các địa điểm đào tạo đáp ứng điều kiện bảo đảm chất lượng được cấp phép hoạt động.
3. Phương thức tổ chức đào tạo gồm:
a) Trực tiếp;
b) Từ xa;
c) Kết hợp giữa trực tiếp và từ xa.
4. Giáo dục đại học số là mô hình tổ chức đào tạo dựa trên nền tảng số, cập nhật công nghệ mới, được triển khai qua các hình thức, phương thức đào tạo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, tài nguyên giáo dục mở giữa cơ sở đào tạo và các bên liên quan, không giới hạn bởi không gian, thời gian.
5. Văn bằng, chứng chỉ giáo dục đại học có giá trị pháp lý xác nhận trình độ, năng lực của người học, được cấp theo quy định như sau:
a) Văn bằng giáo dục đại học cấp cho người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ở trình độ tương ứng;
b) Chứng chỉ giáo dục đại học cấp cho người học sau khi hoàn thành học phần hoặc một phần của chương trình đào tạo.
6. Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học, người đứng đầu cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học thực hiện việc cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục đại học.
7. Kết quả học tập đã tích lũy của người học được công nhận và chuyển đổi giữa các trình độ, hình thức, phương thức đào tạo, thời hạn giá trị kết quả học tập theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
8. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; quy định điều kiện triển khai các hình thức, phương thức đào tạo, chứng chỉ giáo dục đại học; mô hình giáo dục đại học số; khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.”
Luật GDĐH năm 2025 mở rộng và đổi mới cách thức tổ chức đào tạo, nhấn mạnh tổ chức linh hoạt, với các phương thức trực tiếp, từ xa, kết hợp và lần đầu tiên ghi nhận mô hình giáo dục đại học số trên nền tảng công nghệ, kết nối tài nguyên mở, không giới hạn không gian - thời gian. Đồng thời, cũng hoàn thiện quy định về văn bằng, chứng chỉ, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập giữa các trình độ, gắn với yêu cầu quản lý và bảo đảm chất lượng cho mọi hình thức, phương thức đào tạo.
5. Bổ sung các cơ sở GDĐH
Điều 12 Luật GDĐH năm 2025: các cơ sở giáo dục đại học không thuộc đối tượng quản lý nhà nước theo luật hiện hành trở thành đối tượng áp dụng của Luật, bao gồm viện nghiên cứu, các trường bồi dưỡng, các học viện có hoạt động đào tạo trình độ đại học và sau đại học.
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh này nhằm bảo đảm sự quản lý nhà nước thống nhất đối với giáo dục đại học, đồng thời kiểm soát và nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở có tham gia hoạt động đào tạo đại học, sau đại học nhưng trước đây chưa được điều chỉnh đầy đủ trong khuôn khổ pháp lý chung.
Luật Giáo dục đại học năm 2012 không quy định về những đối tượng này.
6. Bổ sung quyền và nhiệm vụ của hội đồng trường, hiệu trưởng
|
Tiêu chí
|
Luật GHĐH năm 2012, Luật sửa đổi năm 2018
|
Luật GHĐH năm 2025
|
|
Hội đồng trường (Công lập)
|
Quyết định về chiến lược, kế hoạch phát triển, kế hoạch hằng năm của trường đại học, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tài chính, về cơ cấu tổ chức, cơ cấu lao động,… (khoản 2 Điều 16).
|
Kết thúc hoạt động hoàn toàn kể từ ngày 01/01/2026 và bàn giao lại hồ sơ cho Hiệu trưởng (khoản 1 Điều 46). Hệ thống cơ cấu tổ chức mới chỉ còn quy định Hội đồng trường đối với cơ sở tư thục hoặc trường thành lập theo Hiệp định quốc tế (điểm b khoản 1 Điều 15).
|
|
Vị trí pháp lý
|
Hiệu trưởng là đại diện theo pháp luật.
|
Tăng thẩm quyền của Hiệu trưởng.
Tiếp tục khẳng định là đại diện theo pháp luật, đồng thời là chủ tài khoản. Hiệu trưởng đại diện pháp luật, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học (khoản 2 Điều 16).
|
|
Phê duyệt chương trình đào tạo
|
Trường đại học được tự chủ mở ngành nếu đáp ứng các điệu kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.
|
Áp dụng cơ chế “cấp phép hoạt động giáo dục đại học” theo phạm vi trình độ ngành, lĩnh vực, phân hiệu, trụ sở chính (Điều 21).
Sau khi được cấp phép hoạt động, Hiệu trưởng phê duyệt các chương trình đào tạo (trừ khối Sức khỏe, Sư phạm, Pháp luật) (khoản 1 Điều 24).
|
Nguồn tham khảo: https://luatvietnam.vn